Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Xét nghiệm Testosterone

Tên khác : Total testosterone
Tên chính : Testosterone
Xét nghiện liên quan : FSH, LH, SHBG, DHEAS, Free and bioavailable testosterone (see FAQ section), Estradiol (seeEstrogen), DHT, Gonadotropin-releasing hormone

Testosterone là một hormone steroid (androgen) được sản xuất bởi mô nội tiết đặc biệt (các tế bào Leydig) ở tinh hoàn nam.Sản xuất Testosterone được kích thích và kiểm soát bởi hóc môn Luteinizing (LH), được sản xuất trong tuyến yên. Điếu hòa bài tiết Testosterone theo một cơ chế thông tin phản hồi ngược : như testosterone tăng , LH giảm, ngược lại khi LH tăng làmtestosterone giảm. Nồng độ testosterone ban ngày, đạt đỉnh điểm vào buổi sáng sớm (khoảng 4:00 đến 8:00 giờ sáng), vớimức thấp nhất vào buổi tối (khoảng 4:00 đến 8:00 pm). Nồng độ cũng tăng sau khi tập thể dục, nhưng giảm theo tuổi tác.Khoảng hai phần ba testosterone lưu thông trong máu gắn chặt với protein cụ thể là Globulin,được gọi là Sex Steroid Binding Globulin (SSBG) hoặc Sex Hormone Binding Globulin (SHBG) và hơi ít hơn một phần ba liên kết lỏng lẻo với albumin. Mộtphần nhỏ (khoảng 1-4%) lưu thông dưới dạng testosterone tự do ( Free testosterone ).

Ở nam giới, testosterone kích thích phát triển các đặc điểm giới tính thứ cấp, bao gồm phát triển dương vật, sự phát triển củalông trên cơ thể, cơ bắp phát triển, và một giọng nói trầm hơn. Nó hiện diện với số lượng lớn ở nam giới trong tuổi dậy thì và ở nam giới trưởng thành để điều hòa ham muốn tình dục và duy trì khối lượng cơ bắp. Testosterone cũng được sản xuất bởituyến thượng thận ở cả nam và nữ, và buồng trứng cũng sản xuất với số lượng nhỏ ở nữ. Ở phụ nữ, testosterone được chuyển thành estradiol, hormone sinh dục chính ở phụ nữ.
Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?

Xét nghiệm Testosterone được sử dụng để chẩn đoán một số tình trạng ở nam giới, phụ nữ, và trẻ em trai. Những tình trạng này bao gồm:

    tuổi dậy thì chậm trễ hoặc sớm ở các bé trai;
    giảm ham muốn tình dục ở nam giới và phụ nữ; 
    rối loạn chức năng cương dương ở nam giới;
    vô sinh ở nam giới và phụ nữ;
    khối u tinh hoàn ở nam giới;
    rối loạn vùng dưới đồi hoặc tuyến yên;
    rậm lông và nam hóa ở các bé gái và phụ nữ. 

Khi nào được chỉ định ?

Ở nam giới, xét nghiệm testosterone thường được chỉ định cùng với xét nghiệm FSH và LH , nếu tuổi dậy thì đã bị trì hoãn hoặc chậm phát triển. Mặc dù tuổi bắt đầu dậy thì của từng cá nhân có sự khác nhau, thông thường là 10 tuổi, khởi đầu có phát triển về kích thích tố và sinh lý của tuổi dậy thì ở nam giới. Một số triệu chứng của tuổi dậy thì chậm có thể bao gồm:

    Chậm phát triển khối lượng cơ
    Giọng nói không trầm hoặc thiếu tăng trưởng của lông trên cơ thể
    Chậm hoặc trì hoãn sự phát triển của tinh hoàn và dương vật

Sự chậm trễ có thể xảy ra nếu tinh hoàn không sản xuất đủ testosterone hoặc nếu tuyến yên không sản xuất đủ LH. Xét nghiệm này cũng có thể được chỉ định nếu một chàng trai trẻ dường như được trải qua tuổi dậy thì từ rất sớm với các đặc điểm giới tính thứ cấp rõ ràng. Nguyên nhân của dậy thì sớm ở các bé trai, do testosterone tăng lên, bao gồm các khối u khác nhau và tăng sản thượng thận bẩm sinh.

Ở nam giới, xét nghiệm có thể được chỉ định khi nghi ngờ vô sinh hoặc nếu bệnh nhân có giảm tình dục hoặc rối loạn chức năng cương dương, tất cả đều có thể là kết quả của nồng độ testosterone thấp. Một số triệu chứng khác bao gồm thiếu râu và lông trên cơ thể, giảm khối lượng cơ, và phát triển của các mô vú (gynecomastia).

Ở phụ nữ, xét nghiệm testosterone có thể được thực hiện nếu bệnh nhân có bất thường hoặc không có chu kỳ kinh nguyệt (vô kinh), gặp khó khăn trong việc mang thai, hoặc xuất hiện các tính năng nam tính, chẳng hạn như lông trên khuôn mặt và cơ thể, chứng hói đầu, và một giọng nói trầm. Mức độ testosterone có thể tăng lên vì các khối u phát triển trong buồng trứng hoặc tuyến thượng thận hoặc do các nguyên nhân khác chẳng hạn như hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovarian syndrome (PCOS)).

Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa là gì?

Giá trị tham khảo: Bình thường : Nam : 2.8 – 8.0   ng/mL
                                                     Nữ   : 0.06 – 0.82 mg/mL
                                                     Trai < 17 tuổi : 0.28 – 11 ng/mL

Giới hạn bình thường đối với nồng độ testosterone ở nam giới là rộng lớn và khác nhau theo từng giai đoạn trưởng thành và tuổi tác. Mức độ bình thường testosterone tụt theo tuổi người đàn ông. Mức giảm (thiểu năng sinh dục) ở nam giới có thể là do:

    Bệnh vùng dưới đồi hoặc tuyến yên 
    Bệnh di truyền có thể gây ra giảm sản xuất testosterone ở nam giới trẻ (Klinefelter, Kallman, và hội chứng Prader-Willi) hoặc suy tinh hoàn và vô sinh (như trong chứng loạn dưỡng trương lực cơ, một dạng của chứng loạn dưỡng cơ)
    Suy giảm sản xuất testosterone vì tinh hoàn bị tổn thương như nghiện rượu, thương tích, hoặc các bệnh do virus như quai bị.

Mức độ testosterone tăng ở nam giới có thể do :

    khối u tinh hoàn 
    khối u thượng thận tăng sản xuất testosterone
    sử dụng nội tiết tố androgen (còn gọi là anabolic steroid)
    dậy thì sớm không rõ nguyên nhân ở trẻ em trai
    cường giáp
    tăng sản thượng thận bẩm sinh (congenital adrenal hyperplasia)

Ở phụ nữ, mức testosterone bình thường thấp. Mức độ testosterone tăng có thể do :

    hội chứng buồng trứng đa nang ( PCOS )
    khối u buồng trứng hay tuyến thượng thận
    tăng sản vỏ thượng thận bẩm sinh.

Điều gì khác cần biết?

Nghiện rượu và bệnh gan ở nam giới có thể làm giảm nồng độ testosterone. Loại thuốc, bao gồm các nội tiết tố androgen và steroid, cũng có thể làm giảm nồng độ testosterone.

Ung thư tuyến tiền liệt đáp ứng nội tiết tố androgen, người đàn ông dùng nhiều liệu pháp thuốc cao để điều trị ung thư tuyến tiền liệt thì mức độ testosterone thấp hơn.

Các loại thuốc như thuốc chống co giật, barbiturate, và clomiphene có thể gây ra mức độ testosterone tăng lên. Phụ nữ dùng liệu pháp estrogen có thể làm tăng mức testosterone.

Câu hỏi thường gặp

1. Nếu tôi có một mức độ testosterone thấp, tôi có thể bổ sung testosterone ?

Có thể. Bổ sung testosterone, hoặc với các miếng dán hoặc tiêm, có thể làm tăng mức testosterone. Nó có thể giúp làm giảm một số triệu chứng và ngăn chặn teo cơ bắp và mất xương xảy ra quá trình lão hóa ở nam giới. Tuy nhiên, điều này đã không được chứng minh rõ ràng và có mối quan tâm rằng liệu pháp testosterone thay thế có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Mặc dù nam giới có rối loạn chức năng cương dương có thể có nồng độ testosterone thấp, trong quản lý, nhiều trường hợp testosterone không cải thiện các triệu chứng bởi vì có những nguyên nhân cơ bản khác. Vì vậy, tham khảo ý kiến bác sĩ để được khám bệnh và tư vấn để xác định nếu điều này là phương pháp điều trị phù hợp với bạn.

2. Tôi là một người phụ nữ, tại sao tôi cần phải thử nghiệm testosterone?

Cơ thể, phụ nữ cũng sản xuất testosterone nhưng với số lượng nhỏ. Nó là cần thiết cho sự cân bằng hormon và giúp cơ thể phụ nữ hoạt động bình thường. Nếu cơ thể bạn sản xuất testosterone quá nhiều, bạn có thể có lông trên cơ thể hơn mức trung bình, có chu kỳ kinh nguyệt bất thường hoặc không có, hoặc bị vô sinh. Một xét nghiệm testosterone, kết hợp với đo nồng độ hormone khác, có thể giúp bác sĩ của bạn hiểu được những gì đang gây ra các triệu chứng của bạn.

3. Số lượng lông trên cơ thể có tỷ lệ thuận với số lượng testosterone trong cơ thể của tôi không?

Các nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ testosterone và số lượng lông trên cơ thể. Ở các bộ phận khác nhau của cơ thể có sự đáp ứng phát triển lông, tóc với testosterone khác nhau. Do đó, ở một số người đàn ông, ví dụ, testosterone thúc đẩy sự phát triển tóc ở bụng và lưng trong khi sự phát triển của tóc bị ức chế ở da đầu, dẫn đến chứng hói đầu. Di truyền đóng một vai trò quan trọng trong sự kích hoạt enzyme 5-alpha reductase, chuyển đổi testosterone thành dihydrotestosterone hợp chất làm hói đầu , dẫn đến xu hướng gia đình bị hói. Thuốc finasteride (propecia) ức chế hoạt động của 5-alpha reductase, và có thể đảo ngược chứng hói đầu ở một số người đàn ông.

4. Dạng tự do và bioavailable testosterone là gì?

Testosterone hiện diện trong máu dưới hai dạng testosterone tự do (1-4%) và testosterone kết hợp. Testosterone có thể được kết hợp lỏng lẻo với albumin là một protein huyết thanh, hoặc kết hợp chặt chẻ với một loại protein cụ thể là Globulin, được gọi là Sex Steroid Binding Globulin (SSBG) hoặc Sex Hormone Binding Globulin (SHBG). Các kết hợp giữa testosterone và albumin là lỏng lẻo và dễ dàng cắt đứt phóng thích testosterone tự do, do đó, dạng bioavailable testosterone (BAT) đề cập đến là tổng của testosterone tự do cộng với testosterone gắn albumin. Ngoài ra, BAT là phần nhỏ testosterone lưu thông mà không bị gắn chặt với SHBG. BAT đại diện cho phần nhỏ của testosterone lưu thông, dễ dàng đi vào các tế bào và phản ánh hoạt tính sinh học của testosterone tốt hơn testosterone tổng số trong huyết thanh. Ngoài ra, các mức độ khác nhau của SHBG có thể cho kết quả đo nồng độ BAT không chính xác. Nồng độ SHBG giảm có thể được nhìn thấy trong suy tuyến giáp, béo phì, sử dụng androgen, và hội chứng viêm thận. Mức tăng được nhìn thấy trong xơ gan, cường giáp, và sử dụng estrogen. Trong những tình huống này, đo testosterone tự do có thể là hữu ích hơn. Tuy nhiên, kỹ thuật testosterone tự do lại khó đo lường chính xác.
Xét nghiệm Estrogens

Tên khác : Estrogen fractions/fractionated; Estrone (E1); Estradiol (E2); Estriol (E3); ( có khoảng 20 dạng estrogen khác nhau)
Tên chính : Estrogens
Xét nghiêm : Follicle stimulating hormone (FSH); Luteinizing hormone (LH); Progesterone; Testosterone; Triple or Quad screen; Sex hormone binding globulin
Estrogen là một nhóm steroid điều hòa chu kỳ kinh nguyệt và chức năng như là các hormone giới tính nữ chính. Các dạng phổ biến nhất của estrogen được thử nghiệm là estrone (E1), estradiol (17-beta estradiol , E2), và estriol (E3). Estrogen đo được trong máu hoặc nước tiểu là Estrogen tổng .

Estrogen chịu trách nhiệm về sự phát triển của cơ quan sinh dục nữ và các đặc điểm giới tính thứ cấp và được gắn liền với chu kỳ kinh nguyệt và mang thai. Chúng được coi là hormone giới tính chính ở phụ nữ và hiện diện với số lượng nhỏ ở nam giới. E1 và E2 là hai estrogen chính ở phụ nữ không mang thai, trong khi E3 là hormon chính trong thời kỳ mang thai .

    Estrone (E1) có nguồn gốc từ sự chuyển hóa các chất béo ( Cholesterol ) trong tuyến thượng thận . Estrone có thể được chuyển đổi thành estradiol hoặc estriol khi cần thiết. Estrone hiện diện với số lượng nhỏ ở trẻ em trước khi đến tuổi dậy thì và sau đó tăng nhẹ ở tuổi dậy thì cho cả nam và nữ. Mức độ này không thay đổi ở nam giới trưởng thành, nhưng nó sẽ tăng và dao động ở phụ nữ theo chu kỳ kinh nguyệt. Sau khi mãn kinh, nó chiếm lượng lớn của estrogen tổng , trong khi đó E2 và E3 giảm bớt rất nhiều.
    Estradiol (E2) là dạng chiếm ưu thế trong Estrogen tổng và được sản xuất chủ yếu trong buồng trứng và số lượng bổ sung được sản xuất bởi tuyến thượng thận ở phụ nữ và trong tinh hoàn và tuyến thượng thận ở nam giới. Trong chu kỳ kinh nguyệt phụ nữ, mức độ E2 thay đổi khác nhau trong suốt tháng, lên và xuống tùy thuộc nồng độ FSH (hormone kích thích nang), LH (luteinizing hormone), và progesterone , các nang trứng trong buồng trứng được kích thích , một quả trứng được phóng thích, và tử cung chuẩn bị tiềm năng cho sự mang thai . Mức độ E2 thấp nhất là lúc bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt và tăng lên mức cao nhất là trước khi phóng thích một quả trứng từ buồng trứng (rụng trứng). Mức E.2 bình thường thích hợp cho sự chuẩn bị rụng trứng, thụ tinh của trứng (thụ thai), và mang thai, ngoài ra E.2 làm cấu trúc xương tăng thêm chắc chắn và điều hòa mức cholesterol.
    Estriol (E3) là estrogen chủ yếu trong thời kỳ mang thai, với số lượng tương đối lớn được sản xuất bởi nhau thai phát triển. Mức độ estriol bắt đầu tăng trong tuần thứ tám của thai kỳ và tiếp tục tăng lên cho đến trước khi sinh một thời gian ngắn. Estriol lưu hành trong máu người mẹ nhanh chóng được thải ra khỏi cơ thể. Mỗi lần đo, nồng độ estriol phản ảnh được của những gì đang xảy ra với nhau thai và thai nhi, nhưng nồng độ estriol cũng có sự thay đổi tự nhiên hàng ngày .
Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?

Xét nghiệm estrogen có thể được sử dụng cho một loạt các lý do:

    Mức độ estrone có thể tăng ở những bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang và lạc nội mạc tử cung. Các xét nghiệm có thể được sử dụng để hỗ trợ trong việc chẩn đoán một khối u buồng trứng, hội chứng Turner, và suy tuyến yên. Ở nam giới, nó có thể giúp trong việc chẩn đoán nguyên nhân của nữ hóa tuyến vú hoặc trong việc phát hiện các khối u sản xuất estrogen.
    Mức độ Estradiol được sử dụng trong việc đánh giá chức năng buồng trứng. Mức độ estradiol tăng trong các trường hợp tuổi dậy thì sớm ở trẻ em gái và nữ hóa tuyến vú ở nam giới. Sử dụng chính của nó đã được sử dụng trong chẩn đoán phân biệt của vô kinh - ví dụ, để xác định xem nguyên nhân là thời kỳ mãn kinh, mang thai, hay một vấn đề bệnh lý khác. Trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART), trong những ngày trước khi thụ tinh trong ống nghiệm,các phép đo nối tiếp được sử dụng để theo dõi sự phát triển nang trong buồng trứng. Estradiol đôi khi cũng được dùng để theo dõi điều trị hormone thay thế ở tuổi mãn kinh. Một bác sĩ đôi khi có thể ra lệnh một xét nghiệm estrogen tổng. Xét nghiệm này đo estrone và estradiol với nhau nhưng không đo lường được estriol.
    Estriol đôi khi có thể được chỉ định theo từng kỳ để giám sát một thai kỳ có nguy cơ cao. Khi nó được sử dụng theo cách này, các thử nghiệm được đo trong mẫu máu được rút ra trong cùng một ngày .Một thử nghiệm estriol không liên kết ( estriol unconjugated ( uE.3)) là estriol không gắn với protein, là một trong các xét nghiệm của bộ tầm soát gồm ba hoặc bốn thử nghiệm. Hàm lượng có liên quan với các rối loạn di truyền khác nhau bao gồm cả hội chứng Down, khiếm khuyết ống thần kinh, và những bất thường tuyến thượng thận. uE.3 được chỉ định trong thời gian mang thai, cùng với alpha-fetoprotein (AFP), chorionic gonadotropin người (hCG), và xét nghiệm inhibin-A , đánh giá nguy cơ mang một bào thai có bất thường nhất định.
Khi nào được chỉ định ?
Một bác sĩ có thể yêu cầu một xét nghiệm estrone hoặc estradiol, cùng với các xét nghiệm khác, khi một người phụ nữ có các triệu chứng như nặng vùng chậu, chảy máu âm đạo bất thường, chu kỳ kinh nguyệt bất thường, vô sinh, và khi các cơ quan sinh dục của bé gái được phát triển trước hoặc muộn hơn so với tuổi dậy thì bình thường . Một bác sĩ cũng có thể yêu cầu estrone và / hoặc estradiol khi một người phụ nữ có cơn nóng bừng, đổ mồ hôi đêm, mất ngủ, và / hoặc vô kinh, triệu chứng của thời kỳ mãn kinh. Khi một phụ nữ sử dụng liệu pháp hormon thay thế, định kỳ bác sĩ có thể yêu cầu đo mức độ estrone để theo dõi điều trị.
Khi một phụ nữ đang gặp vấn đề về khả năng sinh sản, bác sĩ có thể sử dụng các phép đo estradiol trong quá trình của chu kỳ kinh nguyệt để theo dõi sự phát triển nang trước khi thực hiện kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm (một sự đột biến estradiol theo thời gian). Estradiol cũng có thể chỉ định kiểm tra khi một người đàn ông cho thấy dấu hiệu của sự nữ tính, chẳng hạn như nữ hóa tuyến vú, có thể là do một khối u sản xuất estrogen.
Trong thời gian mang thai, bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm estriol nối tiếp để tìm một xu hướng, tăng hay giảm mức độ estriol theo thời gian. Estriol Unconjugated thường được đo lường ở tuần 15 đến tuần thứ 20 của thai kỳ như là một phần của bộ tầm soát ba hoặc bốn xét nghiệm.
Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa là gì?
Mức tăng hoặc giảm của estrogen được nhìn thấy trong nhiều điều kiện trao đổi chất.Xét nghiệm được sử dụng trong việc giải thích estrone, estradiol, và kết quả estriol, bởi vì nồng độ của các xét nghiệm mỗi ngày mỗi khác nhau trong suốt chu kỳ kinh nguyệt. Một bác sĩ theo dõi kích thích tố của người phụ nữ sẽ được xem xét theo xu hướng tăng hoặc giảm theo thời gian liên quan với chu kỳ kinh nguyệt hay mang thai,chứ không phải là đánh giá giá trị riêng rẽ. Kết quả thử nghiệm không phải để chẩn đoán của một nguyên nhân cụ thể, nhưng cung cấp cho các bác sĩ thông tin bổ sung về nguyên nhân tiềm năng của các triệu chứng hoặc tình trạng của một người. Dưới đây là những nguyên nhân mà người ta có thể thấy sự gia tăng hoặc giảm nồng độ estrogen.
Mức tăng của estrogen được nhìn thấy trong:
    Chu kỳ kinh nguyệt bình thường
    Tuổi dậy thì sớm
    Gynecomastia ( vú phát triển bất thường ở đàn ông )
    Khối u buồng trứng, tinh hoàn, hoặc tuyến thượng thận
    Cường giáp
    Xơ gan
Mức độ giảm của estrogen được nhìn thấy trong:
    Hội chứng Turner
    Suy tuyến yên
    Thiểu năng sinh dục
    Không mang thai (estriol)
    Rối loạn ăn uống chán ăn tâm thần
    Sau khi mãn kinh (estradiol)
    PCOS (hội chứng buồng trứng đa nang, hội chứng Stein-Levanthal)
    Tập thể dục bền bỉ cực kỳ
Điều gì khác cần biết?
Kết quả xét nghiệm trong máu và nước tiểu không được thay thế cho nhau. Bác sĩ sẽ chọn loại estrogen trong máu hoặc nước để kiểm tra dựa trên những gì bác sĩ đang tìm kiếm.
Ngoài sự thay đổi hàng ngày và chu kỳ, các bệnh như cao huyết áp, thiếu máu, và suy gan và chức năng thận có thể ảnh hưởng đến mức độ estrogen trong cơ thể.
Một số loại thuốc, chẳng hạn như glucocorticosteroid, ampicillin, các loại thuốc có chứa estrogen, phenothiazin, và tetracycline có thể làm tăng mức độ estrogen trong máu. Glucose trong nước tiểu và nhiễm trùng đường tiểu có thể làm tăng nồng độ trong nước tiểu. Các loại thuốc có thể làm giảm nồng độ bao gồm thuốc kích thích rụng trứng và thuốc ngừa thai uống.
Câu hỏi thường gặp
1. Tất cả nam giới đều có estrogen?

Vâng. Mặc dù estrogen hiện diện với số lượng ít hơn so với ở phụ nữ, Estrogen cần thiết cho sự cân bằng hormon và chức năng của các tuyến khác.

2. Các thụ thể estrogen là gì?

Các thụ thể estrogen là các protein, nằm trên các tế bào của các mô nhất định, liên kết với estrogen. Một yếu tố nguy cơ ung thư vú là sự hiện diện của estrogen vượt quá mức. Estrogen quá mức này kích thích tăng trưởng tế bào ung thư, đặc biệt là nếu khối u có chứa các thụ thể estrogen. Loại thuốc ngăn chặn tác động của estrogen có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng của các bệnh ung thư. 

3. Phytoestrogen và estrogen môi trường là gì?

Phytoestrogen là những hợp chất giống như estrogen có nguồn gốc từ thực vật. Hai loại chính là isoflavones được tìm thấy trong các sản phẩm đậu nành, và lignans được tìm thấy trong ngũ cốc nguyên hạt và một số loại trái cây và rau quả. các sản phẩm này được đề xuất có thể được sử dụng như là một thay thế cho liệu pháp hormone thay thế (HRT). Nghiên cứu ban đầu đã cho thấy giảm một số triệu chứng mãn kinh như nóng ran, nhưng cần có nhiều nghiên cứu thêm chưa được thực hiện. 

Estrogen môi trường là hóa chất, dù là tự nhiên (chẳng hạn như nguồn thực vật) hoặc nhân tạo (chẳng hạn như thuốc trừ sâu DDT), bắt chước tác dụng của estrogen và có thể gây ra các rối loạn như vô sinh, phát triển quá mức của niêm mạc nội mạc tử cung, phát triển sớm vú, và nữ tính trong nam thanh niên. Nó có xu hướng ở lại trong cơ thể trong một thời gian lâu dài và đang được nghiên cứu về ảnh hưởng lâu dài của nó.
Xét nghiệm bệnh viêm gan B (Hepatitis B)

Tên khác : HBV; Hep B; anti-HBs; Hepatitis B surface antibody; HBsAg; Hepatitis B surface antigen; HBeAg; Hepatitis B e antigen; anti-HBc; Hepatitis B core antibody; anti-HBc, IgM; anti-HBe; Hepatitis B e antibody; HBV DNA
Tên chính : Hepatitis B Virus
Xét nghiêm liên quan : Hepatitis A; Hepatitis C; Acute Viral Hepatitis Panel; Liver panel; Bilirubin; AST; ALT; GGT

Xét nghiệm Siêu vi viêm gan B (Hepatitis B): Viêm gan B là một bệnh nhiễm trùng gan do virus viêm gan B (HBV), là một trong nhiều nguyên nhân khác nhau gây viêm gan. Các nguyên nhân khác của viêm gan bao gồm, một số loại thuốc, rối loạn di truyền, và các bệnh tự miễn dịch. Cho đến nayHBV là một trong năm "virus viêm gan" được xác định. Bốn loại khác là A, C, D, và E.

Trên toàn thế giới HBV là nguyên nhân phổ biến nhất của viêm gan cấp và cũng là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh viêm gan mạn tính do nhiễm virus (mặc dù virus viêm gan C là nguyên nhân phổ biến hơn ở Bắc Mỹ và châu Âu). Theo CDC, năm 2007 tại Mỹ có khoảng 43.000 trường hợp nhiễm bệnh viêm gan B mới . Tuy nhiên, con số đó chỉ là ước tính, số liệu các trường hợp đã được báo cáo là thấp hơn nhiều so với thực tế ,vì nhiều người có triệu chứng nhẹ và ít hoặc không bao giờ biếthọ có bệnh. Ở Mỹ bệnh viêm gan B mãn tính vẫn tiếp tục là một vấn đề quan tâm, với khoảng 800.000 đến hơn 1 triệu người bị ảnh hưởng. Trên toàn thế giới, khoảng 350 triệu người bị ảnh hưởng và là một nguyên nhân gây ra cái chết của khoảng 620.000 người mỗi năm.
HBV lây lan qua tiếp xúc với máu hoặc các dịch khác của cơ thể từ người bị nhiễm bệnh. Các nguyên nhân lây bệnh có thể xảy ra như : sử dụng chung kim chích ma túy hoặc quan hệ tình dục không an toàn. Những người sống hoặc đi du lịch đến các khu vực của thế giới, nơi mà viêm gan B là phổ biến thì có nguy cơ lớn hơn. Các bà mẹ có thể truyền bệnh cho con của họ, thường là trong hoặc sau khi sinh. Tuy nhiên, virus không lan truyền qua thức ăn hoặc nước uống,tiếp xúc thông thường, chẳng hạn như nắm tay, hoặc ho hoặc hắt hơi.

Các diễn tiến của nhiễm HBV có thể khác nhau từ một hình thức nhẹ chỉ kéo dài một vài tuần, đến nghiêm trọng hơn là hình thức mạn tính kéo dài nhiều năm.HBV mạn tính đôi khi dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng như xơ gan hoặc ung thư gan. Một số giai đoạn, hoặc các hình thức khác nhau của viêm gan B bao gồm:

   *  Nhiễm trùng cấp tính - sự hiện diện của các dấu hiệu và triệu chứng điển hình với xét nghiệm sàng lọc dương tính.
   *  Nhiễm mạn tính : nhiễm virus dai dẳng đi kèm với viêm gan, được phát hiện bằng các xét nghiệm ở phòng thí nghiệm.
   *  Mang mầm bệnh - nhiễm trùng dai dẳng nhưng không có viêm gan ( một người nào đó có thể biểu hiện một sức khỏe tốt, nhưng nuôi dưỡng các vi rút và có thể có khả năng lây nhiễm cho người khác)
   * "Đã" nhiễm trùng - không còn bất kỳ bằng chứng nhiễm trùng, kháng nguyên virus và kiểm tra DNA đều âm tính và không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm gan (mặc dù, trong nhiều trường hợp, loại virus này hiện diện ở gan trong một trạng thái không hoạt động)

Các dấu hiệu và triệu chứng của một bệnh nhiễm trùng viêm gan B cấp tính có thể rất tương tự với các loại viêm gan cấp khác. Một số trong các triệu chứng bao gồm sốt, mệt mỏi, buồn nôn, ói mửa, và vàng da. Khi bị viêm gan, gan bị hư hỏng và không thể hoạt động bình thường. Gan không thể xử lý các chất độc hoặc không thể loại bỏ các sản phẩm chất thải như bilirubin ra khỏi cơ thể. Trong suốt quá trình bệnh, bilirubin và men gan trong máu có thể tăng. Kết quả các xét nghiệm như bilirubin hoặc một bảng xét nghiệm chức năng gan có thể nói với bác sĩ rằng bạn bị viêm gan, nhưng không cho biết được nguyên nhân gây ra viêm gan của bạn . Các xét nghiệm phát hiện nhiễm virus viêm gan có thể giúp xác định nguyên nhân.
Có một số xét nghiệm khác nhau có thể được sử dụng để phát hiện nhiễm HBV hiện tại hoặc trước đó. Một số thử nghiệmphát hiện kháng thể , các kháng thể được sản xuất để đáp ứng với nhiễm HBV, một số phát hiện kháng nguyên virus, một số những người khác phát hiện DNA của virus. Chúng có thể được sử dụng để sàng lọc nhiễm trùng trong trường hợp không cótriệu chứng, để xác định có bị nhiễm trùng cấp tính hoặc mãn tính, hoặc theo dõi một bệnh nhiễm trùng mãn tính.

Mặc dù nhiễm trùng có thể nghiêm trọng, nhưng nhiễm HBV cấp tính thường tự giải quyết khỏi bệnh ở hầu hết người lớn. Trẻ sơ sinh và trẻ em có xu hướng dễ phát triển thành nhiễm trùng mãn nhiều hơn. Vắc-xin đã giúp phòng ngừa được viêm ganB.Theo CDC từ năm 1990 tiêm chủng mở rộng ở trẻ em, các trường hợp viêm gan siêu vi B đã giảm khoảng 82%.
Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?

Xét nghiệm siêu vi viêm gan B có thể được sử dụng cho một loạt các lý do. Một số thử nghiệm tìm kháng thể, chất được sản xuất để đáp ứng với nhiễm HBV, một số phát hiện kháng nguyên được sản xuất bởi virus, và những người khác phát hiện DNA của virus.

Nói chung, một tập hợp các xét nghiệm được sử dụng để xác định nguyên nhân gây ra các triệu chứng cấp tính, trong khi một tập hợp các xét nghiệm khác có thể được sử dụng sau khi chẩn đoán đã được xác định để theo dõi sự tiến triển của bệnh, để phát hiện nhiễm trùng mãn tính và / hoặc tình trạng người mang mầm bệnh.

Các mục liệt kê dưới đây là những ứng dụng chính để thử nghiệm HBV:

   *  Để phát hiện lây nhiễm siêu vi viêm gan B : Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg), kháng thể lõi viêm gan B (anti-HBc) IgM và đôi khi kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg)
   * Để chẩn đoán viêm gan HBV mạn tính: HBsAg, DNA viêm gan B (HBV), và đôi khi HBeAg
   *  Để theo dõi các bệnh viêm gan B mãn và điều trị : HBsAg, kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg), kháng thể bề mặt viêm gan B (anti-HBs) IgG, kháng thể viêm gan B e (anti-HBe) IgG và HBV DNA
   *  Để phát hiện trước đây đã tiếp xúc với virus viêm gan B, suy giảm miễn dịch (khi virus có thể hoạt động trở lại) : kháng thể lõi viêm gan B (anti-HBc) tổng số và anti-HBs

Trong những nguyên nhân thứ cấp thực hiện thử nghiệm để : tầm soát những người có nguy cơ bị nhiễm virus viêm gan B cao hoặc những người hiến máu, để phát hiện nhiễm trùng trước đó (khả năng đáp ứng miễn dịch sau nhiễm), và để xác định xem khả năng miễn dịch có phát triển sau khi tiêm chủng.

Một số các xét nghiệm được sử dụng để tầm soát bị nhiễm trùng có thể được thực hiện như là một phần của một bảng xét nghiệm viêm gan virus cấp tính kết hợp với các xét nghiệm đối với các loại virus viêm gan khác, bao gồm cả viêm gan A (HAV) hoặc viêm gan C (HCV).


Bảng tóm tắt các xét nghiệm viêm gan B và sử dụng

Xét nghiệm
Mô tả
Sử dụng
Hepatitis B surface antigen (HBsAg)
Là Protein hiện diện trên bề mặt của virus, sẽ có mặt trong máu khi nhiễm HBV cấp tính và mãn tính
Thường được sử dụng để tầm soát và phát hiện nhiễmHBV, chỉ số đầu tiên của viêm gan B cấp và xác địnhngười bị nhiễm bệnh VG SVB ,trước khi triệu chứng xuất hiện, không phát hiện được trong máu trong thời gianphục hồi, là xét nghiệm chính để xác định những người cónhiễm SVB mãn tính.
Hepatitis B surface antibody (anti-HBs)
Kháng thể sản xuất để đáp ứng với kháng nguyên bề mặt HBV , nồng độ tăngtrong máu ở giai đoạnphục hồi.
Được sử dụng để phát hiện trước đây đã tiếp xúc với HBV, cũng có thể có được từ tiêm chủng thành công.Xét nghiệm này được thực hiện để xác định sự cần thiết phải tiêm chủng (nếu anti-HBs âm tính) hoặc để xác địnhnếu một người đã hồi phục từ một bệnh nhiễm trùng vàcó đáp ứng miễn dịch (không thể bị lây nhiễm nếu tiếp xúc HBV một lần nữa).
Anti-hepatitis B core (anti-HBc), IgM
Kháng thể lõi IgM sản xuất đáp ứng với kháng nguyên lõi viêm gan B(kháng nguyên lõi viêm ganB hiện diện trong các tế bào gan bị nhiễm, nó không thể phát hiện đượctrong máu)
Kháng thể đầu tiên được sản xuất sau khi nhiễm HBV,được sử dụng để phát hiện nhiễm trùng cấp tính.
Anti-hepatitis B core (anti-HBc), Total
Gồm cả hai kháng thể IgM và IgG đáp ứng với kháng nguyên lõi viêm gan B.
Có thể được sử dụng để giúp phát hiện nhiễm HBV cấp tính và mãn tính, nó được sản xuất để đáp ứng với kháng nguyên lõi và thường tồn tại trong suốt cuộc đời.
Hepatitis B e-antigen (HBeAg)
Protein được sản xuất và phát hành vào máu khi HBV tích cực hoạt đông sao chép
Không giống như các kháng nguyên bề mặt, e-kháng nguyên được tìm thấy trong máu chỉ khi virus HBV tích cực hoạt động sao chép. HBeAg thường được sử dụngnhư là một dấu hiệu của khả năng lây lan virus cho người khác (lây nhiễm). Nó cũng có thể được sử dụng để theodõi hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, có một số loại (giống)của HBV không sản xuất kháng nguyên e, đây là giốngđặc biệt phổ biến ở Trung Đông và châu Á. Tại các khu vực mà các chủng HBV này phổ biến, thì thử nghiệmHBeAg không phải là hữu ích.
Anti-hepatitis Be antibody (Anti-HBe)
Kháng thể được sản xuấtđể đáp ứng với kháng nguyên viêm gan Be
Trong những người đã phục hồi khỏi bị nhiễm trùng viêm gan B cấp tính, anti-HBe sẽ có mặt cùng với anti-HBc vàanti-HBs. Trong những người bị bệnh viêm gan B mãn tính, anti-HBe có thể được sử dụng để theo dõi cácnhiễm trùng và điều trị.
Hepatitis B DNA (HBV DNA)
Phát hiện viêm gan virus Bnguyên liệu di truyền
Có thể phát hiện một bệnh nhiễm trùng HBV hoạt động,sử dụng chính của nó là để theo dõi điều trị kháng vi-rútở những bệnh nhân nhiễm HBV mãn tính.

Trong khi các xét nghiệm được mô tả ở trên là đặc hiệu đối với HBV, thì các xét nghiệm gan khác như AST, ALT, gamma-glutamyl transferase (GGT) có thể được sử dụng để theo dõi diễn tiến của bệnh. Trong một số trường hợp, sinh thiết gan có thể được thực hiện để xác định.

Khi nào được chỉ định ?

Xét nghiệm siêu vi viêm gan B có thể được chỉ định khi một người nào đó có dấu hiệu và triệu chứng liên quan đến viêm gan cấp để xác định nếu họ nhiễm HBV. Một số trong số này bao gồm:
    Sốt ,Mệt mỏi ,Mất cảm giác ngon miệng ,Buồn nôn, nôn, Đau bụng,Nước tiểu đậm màu Phân nhạt, màuĐau khớp   Vàng da.
Xét nghiệm siêu vi viêm gan B có thể được thực hiện sau khi kết quả thử nghiệm thường qui như ALT và / hoặc AST được tăng cao. Đôi khi viêm gan cấp tính có thể được phát hiện theo cách này vì chúng có thể gây ra các triệu chứng nhẹ có thể bị nhầm lẫn với bệnh cúm. Viêm gan mạn tính thường không có triệu chứng và thường được phát hiện.....
Xét nghiệm Creatine Kinase-MB (CK-MB)

Tên khác : CK MB; CPK MB
Tên chính : Creatine Kinase-MB
Xét nghiêm liên quan : CK, Myoglobin; Troponin; Cardiac biomarkers

CK-MB là một trong ba hình thức riêng biệt (isoenzymes) của enzyme creatine kinase (CK). CK-MB được tìm thấy chủ yếu ở cơ tim. CK – MB tăng lên khi có tổn thương các tế bào cơ tim.

Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?

CK-MB , cùng với CK tổng số, được thử nghiệm cho những người bị đau ngực để chẩn đoán, cho dù họ đã có một cơn đau tim. Khi CK tổng số cao nguyên nhân có thể do tổn thương cơ tim hoặc cơ bắp khác, CK-MB dùng để phân biệt giữa hai nguyên nhân này.

Nếu bác sĩ nghĩ rằng bạn đã có một cơn đau tim và cung cấp cho bạn một liều thuốc làm tan "cục máu đông " , CK-MB có thể giúp bác sĩ biết hiệu quả tác dụng của thuốc . Khi làm cục máu đông tan, nồng độ CK-MB có thể có xu hướng tăng và giảm nhanh hơn. Bằng cách đo CK-MB trong máu nhiều lần, có thể cho bác sĩ biết hiệu quả của liệu thuốc .

Khi nào được chỉ định?

CK-MB thường chỉ định với CK tổng số ở người có đau ngực để xác định xem cơn đau là do một cơn đau tim. Nó cũng có thể được chỉ định ở một con người có xét nghiệm CK cao để xác định tổn thương do cơ tim hay các cơ khác.

CK-MB tăng thường có thể được phát hiện ở những bệnh nhân đau tim khoảng 3-4 giờ sau khi khởi phát đau ngực. Nồng độ CK-MB đỉnh sau khoảng 18-24 giờ và sau đó trở lại bình thường trong vòng 72 giờ.

Mặc dù CK-MB là một thử nghiệm rất tốt, nhưng phần lớn CK – MB đã được thay thế bởi troponin, là xét nghiệm đặc hiệu hơn cho các tổn thương cơ tim.

Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa là gì?

Giá trị tham khảo: BÌnh thường CK – MB : < 25 U/L

Nếu giá trị của CK-MB là cao và tỷ lệ % của CK-MB / CK tổng số (chỉ số tương đối) lớn hơn 5, có khả năng là tim đã bị tổn thương . Một CK cao với một chỉ số tương đối < 3 cho thấy rằng cơ xương đã bị tổn thương.

Điều gì khác cần biết?

Chấn thương cơ xương nghiệm trọng có thể làm tăng nồng độ CK – MB cao hơn bình thường , nhưng chấn thương như vậy thường không gây ra một chỉ số tương đối > 5 .Tập thể dục nặng cũng có thể làm tăng cả CK và CK-MB.

Nếu bác sĩ nghi ngờ tổn thương cơ tim và cơ xương, thì troponin là một thử nghiệm chính xác hơn để xác định một cơn đau tim.

Đôi khi những người đang bị khó thở phải sử dụng cơ ngực để cố gắng thở . Cơ ngực có nhiều CK-MB hơn so với các cơ khác, do đó sẽ nâng cao số lượng CK-MB trong máu.

Người có thận bị hư cũng có thể làm tăng CK – MB mà không có một cơn đau tim. Hiếm gặp hơn, bệnh cơ mãn tính , hormone tuyến giáp (T3, T4, TSH ) thấp và lạm dụng rượu có thể làm tăng CK-MB.

Câu hỏi thường gặp

    1. Đau tim có nghĩa là gì?

Đau tim có nghĩa là một số cơ trong trái tim của bạn đã chết. Thuật ngữ y học gọi là nhồi máu cơ tim (MI). Thông thường nhất, một cơn đau tim bắt đầu với triêu chứng ngực bị một áp lực đè năng hay đau ngực, đau thường lan dài lên cổ hoặc cánh tay trái. Bạn có thể gặp khó thở, hoặc bạn có thể cảm thấy yếu, vả mồ hôi và lạnh.

Một cơn đau tim thường xảy ra khi một trong các mạch máu (gọi là động mạch vành) đưa máu đến cơ tim của bạn bị chặn. Điều này có thể xảy ra khi một cục máu đông hình thành trong mạch máu đã chặn một phần. Tắc nghẽn một phần, phát triển trong nhiều năm, thường gây ra bởi chất béo quá nhiều trong thành của các mạch máu (điều này thường được gọi là xơ cứng mà thuật ngữ y tế gọi là xơ vữa động mạch).

2. Nếu tôi có đau ngực, không có nghĩa là tôi đang gặp một cơn đau tim?

Nhiều vấn đề khác có thể gây ra đau ngực, và nó không phải là luôn luôn có thể cho biết đúng đau ngực của bạn là có hay không có một cơn đau tim. Nhiều người bị đau ngực do căng các cơ ngực của họ, và đau ngực có thể xảy ra với một số bệnh về phổi. Đau ngực có thể là một dấu hiệu cảnh báo của xơ cứng động mạch của tim (bệnh động mạch vành hoặc CAD). Đau ngực xảy ra trong quá trình làm việc nặng, tập thể dục kéo dài, hoặc tại thời điểm căng thẳng, cơn đau kéo dài trong một vài phút và mất đi khi nghỉ ngơi được gọi là đau thắt ngực. Nếu cơn đau kéo dài hơn vài phút, đặc biệt là nếu nó xảy ra khi bạn đang nghỉ ngơi, phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức.

3. Các xét nghiệm khác để xác định cơn đau tim là gì?

Bác sĩ có thể sử dụng nhiều hơn một loại xét nghiệm để xác định xem một người có đau ngực là có một cơn đau tim hay không. Troponin thường được coi là chính xác nhất, và CK-MB cũng có độ chính xác cao trong việc phát hiện tổn thương cơ tim, ngay cả khi không có bằng chứng khác của một cơn đau tim. Myoglobin và creatine kinase hầu như luôn luôn tăng ở những bệnh nhân có một cơn đau tim, nhưng không đặc hiệu vì các nguyên nhân cụ thể khác cũng có thể làm tăng sản xuất hai xét nghiệm này.

4. Nếu tôi không chắc chắn là tôi đang gặp một cơn đau tim, thì điều gì sẽ xảy ra?

Nếu bạn có đau ngực kéo dài, đặc biệt là nếu nó không hết khi nghỉ ngơi , hoặc nếu bạn đã có đau thắt ngực và các loại thuốc mà bạn đã dùng không giảm cơn đau, bạn phải ngay lập tức tìm sư chăm sóc y tế. Nhiều người đã chết vì một cơn đau tim mà do họ không bao giờ cố gắng để gọi một xe cứu thương hoặc đến phòng cấp cứu.
Xét nghiệm Creatine Kinase (CK)

Tên khác : Total CK; Creatine phosphokinase; CPK
Tên chính : Creatine Kinase
Xét nghiệm liên quan : CK-MB; Myoglobin; Troponin; Cardiac biomarkers

Creatine kinase là một enzyme được tìm thấy trong tim, não, cơ xương, và các mô khác. Enzym là những protein giúp các tế bào thực hiện các chức năng bình thường của cơ thể. Trong cơ và tế bào tim, hầu hết năng lượng này được sử dụng khi các cơ hoạt động.

Có ba hình thức khác nhau của CK trong cơ thể của bạn, chúng được gọi là isoenzymes:

    CK-MM (được tìm thấy trong cơ xương và trái tim của bạn),
    CK-MB (được tìm thấy phần lớn trong trái tim của bạn),
    CK-BB (được tìm thấy chủ yếu trong não của bạn).

Bình thường CK có số lượng nhỏ trong máu, chủ yếu từ các cơ bắp của bạn. CK trong não của bạn hầu như không bao giờ vào máu.

Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?

Nồng độ CK trong máu tăng lên khi các tế bào cơ bắp hoặc tim bị tổn thương. Bác sĩ có thể cho xét nghiệm CK, nếu bạn cóđau ngực hoặc các dấu hiệu và triệu chứng của một cơn đau tim. Nồng độ CK trong máu bắt đầu tăng khoảng 4 đến 6 giờ sau khi có cơn đau tim. Nó đạt đến mức cao nhất sau khoảng 18 đến 24 giờ và trở lại bình thường trong vòng 2 đến 3 ngày.Số lượng CK trong máu cũng tăng lên khi cơ xương bị chấn thương .

Khi nào được chỉ định?

Ở các bệnh nhân có thể đã có một cơn đau tim, các xét nghiệm CK thường sẽ được chỉ định khi họ đến phòng cấp cứu và thực hiện lại một lần nữa sau khoảng 4-6 giờ, tổng cộng ba lần. Nếu bạn bị đau cơ hay yếu cơ, bác sĩ có thể yêu cầu thử nghiệm CK để xem các cơ khác có bị tổn thương hay không.

Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa là gì?

Giá trị tham chiếu : Bình thường : 25 – 180 U/L

CK cao ngay lần xét nghiệm đầu tiên hoặc lần thứ hai sau đó, chỉ cho biết đã có một số thiệt hại đối với tim hay các cơ khác.Nó cũng có thể chỉ cho biết cơ bắp của bạn đã hoạt động nặng. Nếu bác sĩ nghi ngờ một cơn đau tim và CK của bạn tăng cao, Bác sĩ thường chỉ định thêm một xét nghiệm đặc hiệu khác là troponin để xem cơ tim bạn có bị tổn thương.

Xét nghiệm này có thể được sử dụng để:

    Chẩn đoán cơn đau tim
    Đánh giá nguyên nhân đau ngực
    Xác định cơ bắp có bị tổn thương
    Phát hiện viêm da và polymyositis
    Phân biệt giữa tăng thân nhiệt ác tính và nhiễm trùng sau phẫu thuật.
    Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne ( Muscular dystrophy )

* Mức độ CPK tăng cao có thể thấy ở những bệnh nhân có:

    Tổn thương não hoặc đột quỵ
    Co giật
    Mê sảng của người nghiện rượu nặng
    Viêm da hoặc polymyositis ( Viêm đa cơ )
    Điện giật
    Đau tim
    Viêm cơ tim (viêm cơ tim)
    Nhồi máu phổi
    Cơ bắp teo
    Bệnh cơ

* Nguyên nhân có thể cho kết quả xét nghiệm dương tính:

    Suy giáp
    Cường giáp
    Viêm màng ngoài tim sau một cơn đau tim
    Tiêu cơ vân

Điều gì khác cần biết?

Những người có khối lượng cơ lớn hơn, có mức CK cao hơn so với những người binh thường, và người Mỹ gốc Phi có thể cómức CK cao hơn so với các dân tộc khác. Tập thể dục rất nặng (như cử tạ, các môn thể thao, hoặc các buổi tập thể dục dài)cũng có thể tăng CK. Các hình thức khác, chẳng hạn như từ một té ngã, một tai nạn xe hơi, phẫu thuật, hay tiêm bắp , làm tổn thương cơ bắp cũng có thể tăng CK.

Nhiều loại thuốc, bao gồm cả thuốc hạ cholesterol (statin), có thể gây tổn thương cơ bắp và tăng CK. Nếu bạn đang dùngmột trong các loại thuốc này, cho bác sĩ biết nếu bạn gặp bất kỳ đau cơ hay yếu. Uống quá nhiều rượu tăng nhẹ CK .

Câu hỏi thường gặp

1. Đau tim có nghĩa là gì?

Đau tim có nghĩa là một số cơ trong trái tim của bạn đã chết. Thuật ngữ y học gọi là nhồi máu cơ tim (MI). Thông thường nhất, một cơn đau tim bắt đầu với triêu chứng ngực bị một áp lực đè năng hay đau ngực, đau thường lan dài lên cổ hoặc cánh tay trái. Bạn có thể gặp khó thở, hoặc bạn có thể cảm thấy yếu, vả mồ hôi và lạnh.

Một cơn đau tim thường xảy ra khi một trong các mạch máu (gọi là động mạch vành) đưa máu đến cơ tim của bạn bị chặn. Điều này có thể xảy ra khi một cục máu đông hình thành trong mạch máu đã chặn một phần. Tắc nghẽn một phần, phát triển trong nhiều năm, thường gây ra bởi chất béo quá nhiều trong thành của các mạch máu (điều này thường được gọi là xơ cứng mà thuật ngữ y tế gọi là xơ vữa động mạch).

2. Nếu tôi có đau ngực, không có nghĩa là tôi đang gặp một cơn đau tim?

Nhiều vấn đề khác có thể gây ra đau ngực, và nó không phải là luôn luôn có thể cho biết đúng đau ngực của bạn là có hay không có một cơn đau tim. Nhiều người bị đau ngực do căng các cơ ngực của họ, và đau ngực có thể xảy ra với một số bệnh về phổi. Đau ngực có thể là một dấu hiệu cảnh báo của xơ cứng động mạch của tim (bệnh động mạch vành hoặc CAD). Đau ngực xảy ra trong quá trình làm việc nặng, tập thể dục kéo dài, hoặc tại thời điểm căng thẳng, cơn đau kéo dài trong một vài phút và mất đi khi nghỉ ngơi được gọi là đau thắt ngực. Nếu cơn đau kéo dài hơn vài phút, đặc biệt là nếu nó xảy ra khi bạn đang nghỉ ngơi, phải tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức.

3. Các xét nghiệm khác để xác định cơn đau tim là gì?

Bác sĩ có thể sử dụng nhiều hơn một loại xét nghiệm để xác định xem một người có đau ngực là có một cơn đau tim hay không. Troponin thường được coi là chính xác nhất, và CK-MB cũng có độ chính xác cao trong việc phát hiện tổn thương cơ tim, ngay cả khi không có bằng chứng khác của một cơn đau tim. Myoglobin và creatine kinase hầu như luôn luôn tăng ở những bệnh nhân có một cơn đau tim, nhưng không đặc hiệu vì các nguyên nhân cụ thể khác cũng có thể làm tăng sản xuất hai xét nghiệm này.

4. Nếu tôi không chắc chắn là tôi đang gặp một cơn đau tim, thì điều gì sẽ xảy ra?

Nếu bạn có đau ngực kéo dài, đặc biệt là nếu nó không hết khi nghỉ ngơi , hoặc nếu bạn đã có đau thắt ngực và các loại thuốc mà bạn đã dùng không giảm cơn đau, bạn phải ngay lập tức tìm sư chăm sóc y tế. Nhiều người đã chết vì một cơn đau tim mà do họ không bao giờ cố gắng để gọi một xe cứu thương hoặc đến phòng cấp cứu.


Xét nghiệm CPK isoenzymes

Tên khác

Creatine phosphokinase - isoenzymes, Creatine kinase - isoenzymes; CK - isoenzymes


Xét nghiệm CPK isoenzymes thử nghiệm các hình thức khác nhau của creatine phosphokinase (CPK) trong máu. CPK là một loại enzyme được tìm thấy chủ yếu ở tim, não, và cơ xương.


Tại sao thực hiện xét nghiệm

Xét nghiệm này được thực hiện nếu xét nghiệm CPK tổng số của bạn được nâng lên. Xét nghiệm CPK isoenzyme có thể giúp xác định nguồn gốc chính xác của các mô bị tổn thương.

CPK tổng số gồm ba chất hơi khác nhau:

    CPK-1 (còn gọi là CPK-BB) được tìm thấy chủ yếu ở não và phổi
    CPK-2 (còn gọi là CPK-MB) được tìm thấy chủ yếu trong tim
    CPK-3 (còn gọi là CPK-MM) được tìm thấy chủ yếu trong cơ xương

Xét nghiêm co ý nghĩa gì ?

CPK-1 cao hơn bình thường :

Bởi vì CPK-1 được tìm thấy chủ yếu ở não và phổi, tổn thương ở một trong các khu vực này có thể làm tăng CPK-1 . Tăng CPK- 1 có thể do:

    Ung thư não
    Tổn thương não (do chấn thương, đột quỵ, hoặc chảy máu trong não)
    Liệu pháp shock điện.
    Nhồi máu phổi
    Sư ngập máu

CPK-2 cao hơn bình thường :

CPK-2 mức tăng 3 - 6 giờ sau khi một cơn đau tim. Nếu không tổn thương cơ tim hơn nữa, tăng cao đạt đỉnh sau 18 - 24 giờ và trở lại bình thường sau 2 đến 3 ngày.

Tăng CPK-2 cũng có thể là do:

    Điện chấn thương
    Khử rung tim (có mục đích gây sốc của trung tâm bởi nhân viên y tế)
    Trái tim tổn thương (ví dụ, từ một tai nạn xe hơi)
    Viêm cơ tim thường là do virus (viêm cơ tim)
    Phẫu thuật tim hở

CPK-2 thường không tăng trong đau ngực gây ra bởi chứng đau thắt ngực (angina ), tắc mạch phổi (máu cục máu đông trong phổi), hoặc suy tim sung huyết.

CPK-3 cao hơn bình thường, thường là một dấu hiệu của tổn thương cơ bắp hoặc căng thẳng cơ bắp và có thể là do:

    chấn thương dập nát 
    Cơ thiệt hại do ma túy hoặc bất động trong một thời gian dài (tiêu cơ vân)
    Chứng loạn dưỡng cơ
    Viêm cơ (cơ xương viêm)
    Tiêm bắp nhiều lần
    Gần đây có kiểm tra chức năng thần kinh và cơ bắp (electromyography, đo điện cơ )
    Gần đây có co giật
    Gần đây có phẫu thuật
    Tập thể dục nặng

Điều cần biết

Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm bao gồm đặt ống thông tim, tiêm bắp, phẫu thuật gần đây, tập thể dục mạnh hoặc trong một thời gian cố định dài .

Thử nghiệm Isoenzyme xác định nguyên nhân cụ thể chính xác khoảng 90%.
Xét nghiệm Rheumatoid Factor (RF)

Tên tắt : RF
Tên chính : Rheumatoid Factor
Xét nghiệm liên quan : ANA, Autoantibodies, CCP (Cyclic Citrullinated Peptide Antibody), ESR, CRP, ENA panel, Synovial Fluid Analysis

Xét nghiệm này phát hiện và đo các yếu tố dạng thấp (RF) trong máu. RF là một kháng thể tự sinh ( autoantibodies ), là một protein IgM (globulin miễn dịch M) được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể. Kháng thể tự sinh tấn công các mô của chính mình, nhận định nhầm lẫn các mô là "ngoại lai." Vai trò sinh học của RF chưa được hiểu rõ, sự hiện diện của nó là hữu ích như là một chỉ báo về hoạt động của viêm và tự miễn dịch.

Xét nghiệm RF là một thử nghiệm có giá trị để khẳng định viêm khớp dạng thấp (RA) hoặc hội chứng Sjogren, nhưng nó có thể dương tính trong các bệnh lý khác. Khoảng 75% những người bị RA và 60-70% của những người bị hội chứng Sjogren sẽcó xét nghiệm RF dương tính. Tuy nhiên, RF cũng có thể được phát hiện ở những người bị một loạt các rối loạn khác, chẳng hạn như nhiễm trùng dai dẳng do vi khuẩn, virus và ký sinh trùng, và bệnh ung thư nhất định. Đôi khi cũng có thể được nhìn thấy ở những người bị bệnh phổi, bệnh gan, bệnh thận, và cũng có thể được tìm thấy ở những người khỏe mạnh với một tỷ lệ phần trăm nhỏ .
Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?

Xét nghiệm RF được sử dụng chủ yếu để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp (RA) hoặc hội chứng Sjogren và để giúp phân biệt chúng với các bệnh viêm khớp khác hoặc các bệnh lý khác gây ra triệu chứng tương tự. Trong khi chẩn đoán của RA và hội chứng Sjogren phụ thuộc rất nhiều vào hình ảnh lâm sàng, thì một số trong những dấu hiệu và triệu chứng có thể không có mặt hoặc không điển hình, đặc biệt là trong giai đoạn đầu các bệnh này. Hơn nữa, các dấu hiệu và triệu chứng không phải luôn luôn được xác định rõ ràng vì những người có các bệnh này cũng có thể có rối loạn mô liên kết hay bệnh lý khác, như hiện tượng Raynaud, xơ cứng bì, rối loạn tuyến giáp tự miễn , và lupus ban đỏ hệ thống. Xét nghiệm RF là một trong số những công cụ có thể được sử dụng để giúp thực hiện một chẩn đoán khi nghi ngờ bị RA hoặc hội chứng Sjorgren .

Xét nghiệm RF có thể được chỉ định cùng với xét nghiệm liên quan đến tự miễn dịch khác, chẳng hạn như một ANA ( kháng thể kháng nhân), và các dấu hiệu khác của viêm, chẳng hạn như CRP (C-reactive protein) và ESR (tỉ lệ lắng đọng hồng cầu), cũng như CBC (Complete Blood Count,đếm tế bào máu toàn phần) để đánh giá các tế bào máu của cơ thể. Xét nghệm ACCP (Cyclic Citrullinated peptide antibody) là thử nghiệm tương đối mới có thể giúp phát hiện sớm RA, có thể được chỉ định nếu RF âm tính.

Xét nghiệm RF cũng có thể được chỉ định, cùng với các xét nghiệm như Anti-SS-A và anti-SS-B để giúp chẩn đoán hội chứng Sjogren.

Khi nào được chỉ định?

Thử nghiệm RF có thể được chỉ định khi một người có dấu hiệu của RA. Các triệu chứng có thể bao gồm đau, nóng, sưng, cứng các khớp vào buổi sáng , các nốt dưới da, và nếu bệnh đã tiến triển, hình ảnh trên X-quang cho thấy viêm sưng nang khớp và mất sụn và xương. Xét nghiệm RF có thể được lặp đi lặp lại khi thử nghiệm đầu tiên âm tính và triệu chứng không giảm.

Xét nghiệm RF cũng có thể được chỉ định khi bệnh nhân có triệu chứng gợi ý hội chứng Sjogren. Các triệu chứng có thể bao gồm rất khô miệng và mắt, da khô, đau khớp và cơ.

Kết quả thử nghiệm có ý nghĩa gì?

Kết quả xét nghiệm RF phải được phối hợp với các triệu chứng lâm sàng và tiền sử bệnh để chẩn đoán RA, hội chứng Sjogren, hoặc điều kiện khác.

Ở những người có triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng của viêm khớp dạng thấp, sự hiện diện của nồng độ RF tăng đáng kể cho biết người đó có khả năng bị RA. Ở những người có các triệu chứng của hội chứng Sjogren, nồng độ RF tăng đáng kể cho biết người đó có khả năng bị hội chứng Sjogren.

Một kết quả xét nghiệm RF âm tính không loại trừ RA hoặc hội chứng Sjogren. Khoảng 20% những người bị RA và những người có hội chứng Sjogren có xét nghiệm RF âm tính và / hoặc có thể có mức độ RF rất thấp .

Kết quả xét nghiệm RF dương tính cũng có thể được nhìn thấy ở người khỏe mạnh và ở những người có bệnh lý như: viêm nội tâm mạc, lupus ban đỏ hệ thống (lupus), bệnh lao, giang mai, sarcoidosis, ung thư, nhiễm virus, hoặc bệnh gan, phổi, thận . Xét nghiệm RF không được sử dụng để chẩn đoán hay theo dõi các bệnh lý này.

Điều gì khác nên biết?

Tần số kết quả RF dương tính giả (xảy ra ở những người không có RA hay hội chứng Sjogren) tăng lên theo tuổi tác.
Câu hỏi phổ biến 

    1. Một kết quả RF cao, có nghĩa là tôi bị bệnh viêm khớp ở giai đoạn nặng?

Nồng độ RF cao, có thể kéo dài hoặc biến động mà không nhất thiết phải tương quan với mức độ nghiêm trọng của các dấu hiệu hoặc triệu chứng. số lượng kháng thể tự sinh cao thường được tìm thấy ở những người bị viêm khớp dạng thấp đang hoạt động, Nồng độ RF cao cũng có thể là kết quả của hội chứng Sjogren hay các tình trạng viêm khác. Mức độ RF tăng trong máu của bạn cũng có thể bạn bị viêm nội tâm mạc, lupus ban đỏ hệ thống (lupus), bệnh lao, giang mai, sarcoidosis, ung thư,nhiễm virus, hoặc một căn bệnh, phổi, gan hoặc thận.

2. Có phải tất cả mọi người cần phải xét nghiệm RF?

Xét nghiệm RF không được chỉ định thường quy. Hầu hết mọi người sẽ không bao giờ cần phải thực hiện xét nghiệm RF .

3. Tôi có thể có viêm khớp và không có viêm khớp dạng thấp (RA)?

Có, bạn có thể có một dạng khác của viêm khớp, chẳng hạn như viêm xương khớp. Viêm xương khớp là hình thức phổ biếnnhất của viêm khớp ở Mỹ và có liên quan với quá trình lão hóa,gây thiệt hại, tổn thương khớp, không có sự hủy diệt tế bào tự miễn dịch.

4. Xét nghiệm RF có thể được thực hiện ở phòng khám của bác sĩ của tôi?

Nó có thể được thực hiện ở một số phòng khám của bác sĩ ( định tính ), nhưng đa số thử nghiệm được thực hiện ở phòng thí nghiệm.
Xét nghiệm Ferritin

Tên khác : Serum ferritin level
Tên chính : Ferritin, serum
Xét nghiệm liên quan : CBC, Serum iron, TIBC & UIBC, Transferrin, Iron tests, Zinc Protoporphyrin

Xét nghiệm này đo lượng ferritin trong máu. Ferritin là một protein chứa sắt là dạng sắt chủ yếu được lưu trữ bên trong các tế bào. Lượng nhỏ ferritin được lưu hành trong máu phản ánh số lượng sắt tổng số được lưu trữ trong cơ thể.

Ở những người khỏe mạnh, khoảng 70% lượng sắt hấp thụ bởi cơ thể được gắn kết vào hemoglobin của các tế bào máu đỏ. 30% còn lại, hầu hết được lưu giữ dưới dạng ferritin hoặc hemosiderin, là một phức hợp của sắt với protein, và các chất khác. Ferritin và hemosiderin không chỉ tích tụ chủ yếu ở gan mà còn có trong tủy xương, lá lách, và cơ xương.

Khi lượng sắt không đủ để đáp ứng nhu cầu của cơ thể, các kho sắt bị cạn kiệt và nồng độ ferritin giảm. Điều này có thể xảy ra do cung cấp không đủ lượng sắt, hấp thu không đầy đủ, nhu cầu sắt tăng chẳng hạn như trong quá trình mang thai, hoặc nguyên nhân gây mất máu mãn tính. Sự suy giảm đáng kể của các kho dự trử sắt có thể xảy ra trước khi có bất kỳ dấu hiệu thiếu sắt phát triển.

Sắt lưu trữ và mức độ ferritin tăng khi chất sắt được hấp thụ nhiều hơn so với nhu cầu cơ thể. Hấp thu sắt dư thừa mãn tính sẽ dẫn đến sự tích tụ của các hợp chất sắt trong các mô và cơ quan và cuối cùng có thể gây ra rối loạn chức năng và tổn thương các mô, cơ quan. Điều này xảy ra trong bệnh nhiễm sắc tố sắt mô, một căn bệnh di truyền, trong đó cơ thể hấp thụ quá nhiều sắt, ngay cả trong một chế độ ăn uống bình thường.
Xét nghiệm được sử dụng như thế nào?
Các thử nghiệm ferritin được chỉ định để đánh giá dự trữ sắt trong cơ thể của một người. Xét nghiệm này đôi khi được chỉ định cùng với xét nghiệm sắt và TIBC để phát hiện sự hiện diện và đánh giá mức độ nghiêm trọng của thiếu sắt hoặc quá tải sắt.

Khi nào được chỉ định ?

Các thử nghiệm ferritin có thể được chỉ định cùng với các xét nghiệm sắt khác, khi kết quả CBC bất thường cho thấy rằng một người có hemoglobin và hematocrit thấp và các tế bào máu đỏ của họ nhỏ và nhạt màu hơn bình thường (microcytic và hypochromic), cho thấy thiếu máu thiếu sắt thậm chí mặc dù các triệu chứng lâm sàng chưa xuất hiện.

Giai đoạn đầu thiếu sắt thường không gây hiệu thay đổi các đặc tính vật lý của hồng cầu. Nếu một người khỏe mạnh, các triệu chứng ít khi xuất hiện trước khi hemoglobin trong máu giảm xuống dưới một mức nhất định (10 g / dL). Tuy nhiên, nếu nguồndự trử sắt tiếp tục cạn kiệt , triệu chứng có thể bắt đầu phát triển và bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm ferritin cùng các xét nghiệm liên quan đến sắt khác. Các triệu chứng phổ biến nhất của thiếu máu thiếu sắt bao gồm:

Mệt mỏi mãn tính / mệt mỏi
Ốm yếu
Chóng mặt
Nhức đầu

Nếu thiếu máu thiếu sắt nặng, khó thở, chóng mặt, đau ngực, nhức đầu, và đau chân có thể xảy ra. Trẻ em có thể phát triển các bất lực học tập (nhận thức kém ). Bên cạnh những triệu chứng chung của bệnh thiếu máu, có những triệu chứng đặc trưng của thiếu sắt như là thèm ăn các chất đặc biệt, (chẳng hạn như cam thảo, phấn, bụi bẩn, hoặc đất sét), một cảm giác nóng rát ở lưỡi hoặc lưỡi trơn bóng, vết loét ở các góc miệng, và móng ngón tay và ngón chân có hình cái muỗng.

Một số ferritin cũng có thể được chỉ định khi nghi ngờ quá tải sắt . Các triệu chứng của tình trạng quá tải sắt sẽ khác nhau từ người này sang người khác và có xu hướng xấu đi theo thời gian. Các triệu chứng là do sắt tích tụ trong máu và các mô. Các triệu chứng có thể bao gồm:

    Đau khớp
    Mệt mỏi, yếu
    Thiếu năng lượng
    Đau bụng
    Mất ham muốn tình dục
    Vấn đề về tim 

Để xác nhận sự hiện diện của quá tải sắt, xét nghiệm về sắt khác (sắt, TIBC) và thử nghiệm di truyền đối với bệnh nhiễm sắc tố sắt mô di truyền có thể được cho là tốt.

Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa là gì?

Giá trị tham khảo bình thường :      Nam : 30 – 400 ng/mL
                                                          Nữ   : 15 – 150 ng/mL

Mức độ ferritin thường được thẩm định kết hợp với các xét nghiệm sắt khác.
Điều gì khác cần biết?

Bình thường, hầu hết ferritin được tìm thấy bên trong các tế bào , chỉ một phần nhỏ lưu hành trong máu. Khi có tổn thươngcác cơ quan có chứa ferritin, chẳng hạn như gan, lá lách, và tủy xương, nồng độ ferritin có thể tăng cao mặc dù tổng số lượngsắt trong cơ thể là bình thường.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ sắt của tôi là bình thường, nhưng mức độ ferritin của tôi lại thấp. Tại sao vậy?

Sự phát triển của thiếu máu thiếu sắt là một quá trình dần dần. Nếu cơ thể bạn không nhận đủ chất sắt, đầu tiên cơ thể của bạn sử dụng chất sắt lưu trữ trong các mô (ví dụ, ferritin) và nồng độ trong máu của ferritin sẽ bắt đầu giảm. Nếu không đượckhắc phục, sắt lưu trữ bắt đầu bị cạn kiệt vì nó được sử dụng trong việc sản xuất các tế bào máu đỏ. Trong giai đoạn đầu của thiếu sắt, nồng độ sắt trong máu có thể là bình thường trong khi sắt lưu trữ ( ferritin ) sẽ bắt đầu giảm.

2. Tôi biết ăn các thực phẩm giàu chất sắt hoặc uống bổ sung sắt sẽ tăng mức độ sắt của tôi, và nó cũng sẽ tăng mức độ ferritin ?

Vâng. Bổ sung nhiều chất sắt sẽ làm tăng mức độ sắt trong cơ thể của bạn. Nếu mức độ sắt trong cơ thể của bạn tăng và nhiều hơn so với yêu cầu của cơ thể bạn, cơ thể bạn sẽ bắt đầu dự trữ thêm chất sắt dưới các dạng như là ferritin.

3. Các nguyên nhân khác có thể làm thay đổi nồng độ ferritin?

Mức Ferritin tăng có thể được nhìn thấy trong lạm dụng rượu, viêm gan cấp tính, và nhiễm trùng.

4. Ai cần bổ sung chất sắt?

Những người đặc biệt cần bổ sung chất sắt là những phụ nữ mang thai và bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt đã xác định. Phụ nữ trẻ bị thiếu máu do chế độ ăn uống nghèo chất dinh dưỡng và mất máu mãn tính và / hoặc mất quá nhiều máu trong chu kỳ kinh nguyệt là có thể yêu cầu cần bổ sung chất sắt. Mọi người không nên bổ sung sắt trước khi nói chuyện với bác sĩ của bạnvì dư thừa sắt có thể gây thừa sắt mãn tính. Quá liều thuốc sắt có thể độc hại, đặc biệt là cho trẻ em.

5. Có cách nào để chữa bệnh thừa sắt?

Nếu đó là một nguyên nhân tạm thời hoặc do uống bổ sung chất sắt, có khả năng tự điều chỉnh một khi nguyên nhân hoặc uống bổ sung được giải quyết. Nếu đó là do bệnh nhiễm sắc tố sắt mô hoặc một bệnh mãn tính, không thể được chữa khỏi,không được quản lý tốt. Trong trường hợp nghiêm trọng, định kỳ loại bỏ một lượng máu nhất định , còn được gọi là chích điều trị, có thể là cần thiết.

KỸ THUẬT LÀM TIÊU BẢN

Chương I  KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM CƠ BẢN KỸ THUẬT LÀM TIÊU BẢN 1. Mục đích Quy trình này hướng dẫn cách làm tiêu bản để chuẩn bị cho các phươn...